Đã phát hiện dấu hiệu bất thường nhưng vì chủ quan và thiếu kiến thức, người phụ nữ khiến căn bệnh ung thư vú của mình trở nên trầm trọng vì đã di căn.

Đó là câu chuyện của chị P.P. (ngụ TP Cần Thơ), nữ bệnh nhân phát hiện bị ung thư vú khi mới 38 tuổi.

6 lần hóa trị ung thư vú vì chủ quan

Theo bệnh sử, 6 tháng trước khi phát hiện bệnh, chị P. đã sờ được khối u ở vú trái. Vì không thấy đau nên người phụ nữ không điều trị gì. Theo thời gian, khối u cứ to dần và gây loét da. Lúc này, bệnh nhân mới đến một bệnh viện ở địa phương thăm khám.

Tại đây sau khi tiến hành các xét nghiệm và cận lâm sàng, bác sĩ phát hiện vị trí cách quầng vú 2cm có khối u kích thước 10cm gây loét da, rỉ dịch vàng đục, di động so với thành ngực. CT-Scan ngực cho kết quả tổn thương vú trái kích thước 79mm. Nách trái bệnh nhân có hạch kích thước 2cm, chắc, di động. Kết quả xác định ung thư vú di căn hạch nách trái khiến chị P. điếng người.

6 chu kỳ hóa trị, chị P. trải qua bao thử thách về thể xác lẫn tinh thần. Biến chứng của việc vô hóa chất khiến tóc bệnh nhân rụng, cơ thể yếu ớt dần. Khi bắt đầu đáp ứng điều trị, các bác sĩ lại phát hiện nữ bệnh nhân bị viêm gan siêu vi B, gây khó khăn cho việc điều trị.

Trước tình hình này, bệnh viện ở Cần Thơ đã tiến hành hội chẩn từ xa vào tháng 8 với Bệnh viện Ung Bướu TP.HCM để tìm phương pháp can thiệp tối ưu cho bệnh nhân. Sau buổi hội chẩn, các bác sĩ thống nhất sẽ điều trị viêm gan cho chị P. ổn định. Sau đó, nữ bệnh nhân sẽ được tiến hành phẫu thuật đoạn nhũ và nạo hạch nách trái. Ngoài ra, việc xạ trị bổ túc cũng sẽ được thực hiện.

Giờ đây khi đã “ngấm” hết nỗi đau ung thư, nữ bệnh nhân chỉ biết tự trách mình “Giá như ngày ấy đã không chủ quan mà đi bệnh viện kiểm tra ngực sớm”.

Tỷ lệ chữa khỏi ung thư lên đến hơn 80%

Chị P. là một trong rất nhiều trường hợp phát hiện ung thư vú khi đã ở giai đoạn muộn.

Đáng chú ý những năm gần đây, tỷ lệ phụ nữ trẻ mắc ung thư vú ở Việt Nam có xu hướng ngày càng gia tăng.

Theo số liệu của Tổ chức Ghi nhận Ung thư toàn cầu (GLOBOCAN) thời điểm 2018, mỗi năm tại Việt Nam số ca mắc mới ung thư vú là 15.229 ca và tử vong là 6.103 ca. Theo nghiên cứu gần đây của The Economist Intelligence Unit đánh giá sự sẵn sàng trong bao phủ kiểm soát ung thư dưới góc độ chính sách và hệ thống y tế, Việt Nam nằm trong ba quốc gia xếp sau cùng trong thang điểm ở Đông Nam Á trong sàng lọc phát hiện sớm ung thư vú, với hơn 70% bệnh nhân phát hiện ung thư vú ở giai đoạn muộn.

Trong các loại ung thư vú, tỷ lệ ung thư vú có HER2 dương tính (tiên lượng xấu nhất, xếp vào nhóm nguy cơ cao) là nguy hiểm nhất. Khi đã di căn, người bệnh không thể chữa khỏi với bất kỳ liệu pháp điều trị nào. Điều này làm giảm tỷ lệ chữa khỏi của bệnh ung thư vú và tăng thêm gánh nặng bệnh tật cho xã hội .

Hiện nay, việc điều trị ung thư vú ở nước ta đã có bước tiến lớn về phương pháp điều trị như: phẫu thuật, xạ trị, hóa trị và kết hợp các phương pháp điều trị khác như liệu pháp nột tiết tố, sinh học (điều trị nhắm trúng đích). Tiến bộ của y học giúp cải thiện đáng kể chất lượng điều trị bệnh.

Tuy nhiên theo các chuyên gia, yếu tố then chốt vẫn là việc điều trị khi ung thư ở giai đoạn sớm. Nếu được phát hiện ở giai đoạn đầu, tỷ lệ chữa khỏi ung thư vú đạt tới hơn 80%. Ở giai đoạn hai, tỷ lệ này giảm xuống 60%. Còn ở giai đoạn ba, khả năng khỏi hẳn thấp và đến giai đoạn bốn thì việc điều trị chỉ để kéo dài cuộc sống, giảm bớt các triệu chứng đau đớn.

Chỉ 8% bệnh nhân ung thư vú tiếp cận liệu pháp điều trị tiên tiến

Dữ liệu Viện ung thư quốc gia (2016-2018) cho thấy, bệnh nhân ung thư vú nói chung và phân nhóm bệnh nhân có HER2 dương tính được chẩn đoán và điều trị sớm bằng các liệu pháp tiên tiến mới chỉ đạt 8%. Nguyên nhân bởi việc điều trị cho bệnh nhân ung thư vú đòi hỏi phải có một hệ thống tốt, bao gồm cả yếu tố chuyên môn và trang bị kỹ thuật hiện đại. Hệ thống bệnh viện có khả năng điều trị ung thư vú đang tập trung chủ yếu tại các thành phố lớn như Hà Nội và TP.HCM với 2 đơn vị hàng đầu là Bệnh viện K Trung ương và Bệnh viện Ung bướu TP.HCM.

Các bệnh viện tuyến cuối ở các thành phố lớn sẽ là nơi tiếp tục nhận quá tải. Giải quyết vấn đề làm sao để các cơ sở cùng tham gia trong vấn đề kiểm soát, điều trị các bệnh lý ung thư vú thì chúng ta mới có thể giảm được gánh nặng cho các trung tâm lớn”, TS.BS Phạm Xuân Dũng, Giám đốc Bệnh viện Ung bướu TP.HCM nhận định.

PGS.TS Trần Thị Thanh Hương, Phó Viện trưởng Viện Ung thư Quốc gia cho biết, mặc dù Việt Nam đã có kế hoạch kiểm soát ung thư nhưng hiện nay chưa có một chương trình kiểm soát ung thư chuyên biệt. Do đó chưa thể huy động được nguồn lực từ các ban ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội cũng như chưa có một đánh giá lâu dài và hiệu quả. Đây là một trong những nguyên nhân khiến cho tỷ lệ chẩn đoán ở giai đoạn muộn vẫn còn rất cao.

Ngoài ra, gánh nặng kinh tế cũng là rào cản khiến bệnh nhân khó tiếp cận các liệu pháp tiên tiến.

“Chìa khóa” cho bệnh nhân ung thư vú

PGS.TS Nguyễn Thị Xuyên, Chủ tịch Tổng Hội y học Việt Nam nhận định, đề án tăng cường tiếp cận toàn diện ung thư là đề án hết sức có ý nghĩa với các giải pháp và phương pháp tiếp cận cho bệnh nhân một cách toàn diện và phù hợp. Trong đó, mô hình hợp tác công tư được xem là “chìa khóa” để giảm bớt gánh nặng ung thư.

Với hợp tác công tư các tổ chức hay doanh nghiệp tư nhân có thể tham gia vào rất nhiều các hoạt động khác nhau như khám sàng lọc, chẩn đoán sớm ung thư hay thực hiện các nghiên cứu khoa học hỗ trợ cho bệnh nhân. Từ đó cố gắng giảm chi phí để người bệnh có thể tiếp cận các loại thuốc điều trị tốt hơn. Riêng với ung thư vú, hợp tác công tư có thể giúp tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng và tăng cường năng lực tầm soát, chẩn đoán, điều trị ung thư vú.

Hợp tác công – tư trong lĩnh vực y tế ngoài nâng cao năng lực phát hiện bệnh sớm sẽ giúp tăng tỷ lệ tiếp cận của bệnh nhân ung thư vú có nguy cơ cao (như chị P.) với liệu pháp điều trị kháng HER2 dương tính. Rộng hơn, có thể tận dụng nguồn lực các tổ chức có liên quan để tối ưu hóa dữ liệu sẵn có của BHXH/BHYT và Viện Ung thư Quốc gia nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu chẩn đoán và điều trị ung thư vú.

Chương trình tư vấn Doctor Talk – Nâng cao nhận thức về bệnh Ung Thư Vú do Quỹ Ngày mai tươi sáng tổ chức tháng 11/2020

Quỹ Ngày mai tươi sáng tổ chức thường niên từ năm 2013 chương trình nâng cao nhận thức và khám sàng lọc ung thư vú miễn phí cho phụ nữ trong độ tuổi nguy cơ đã khám sàng lọc cho 31.733 chị em, phát hiện sớm 27 trường hợp ung thư vú và 132 trường hợp nghi ngờ ung thư cần theo dõi thường xuyên.

LEAVE A REPLY