Trẻ em ở lứa tuổi mầm non, hay học sinh tiểu học mắc bệnh mắt nhiều hơn người lớn vì miễn dịch tại mắt của trẻ còn non yếu, các hoạt động của chúng đa dạng và mang tính chất nhóm hay tập thể cũng làm bệnh có những nét đặc thù.

Viêm kết mạc dị ứng

Ngoài những biểu hiện lâm sàng như: nhú gai trên kết mạc sụn, thẩm lậu vùng rìa, ánh củng mạc mờ đục thì việc khai thác tiền sử sẽ giúp chúng tôi khẳng định chẩn đoán. Cơ địa dị ứng là đặc điểm rất quan trọng khi khai thác tiền sử bệnh.

Hơn 80% các phụ huynh sẽ than phiền về tiền sử hen suyễn lúc còn nhỏ hoặc vẫn đang bị của con em. Viêm mũi xoang dị ứng, viêm da cơ địa, dị ứng thức ăn cũng được coi là cơ địa dị ứng, mảnh đất màu mỡ để viêm kết mạc mùa xuân phát triển. Không cần những xét nghiệm đắt tiền trong labo, chỉ với câu hỏi cháu có bị ngứa hay không cộng với khám lâm sàng khiến ta có thể chẩn đoán chắc chắn tới 85%.
 
Bệnh nhân viêm kết mạc mùa xuân khốn khổ vì ngứa, càng day dụi càng thích, ngứa muốn cào mắt ra. Một thể nặng của bệnh là viêm kết mạc quanh năm. Tính chất theo mùa xuân hè của bệnh đã không còn. Bệnh nhân bị ngứa quanh năm, tất nhiên dữ dội nhất là trong dịp hè. Trái ngược với những vất vả và khó chịu của bệnh nhân, vũ khí để chiến đấu với viêm kết mạc mùa xuân lại không có nhiều. Nhóm thuốc chống viêm có cortizol hay gần đây là những thuốc điều hòa miễn dịch như cyclosporine A đã cho thấy tác dụng nhất thời của nó cũng như những biến chứng tiềm tàng rất nguy hiểm.
 
Phòng ngừa đau mắt tuổi học đường 1
 Khi có dấu hiệu lạ, cần đưa trẻ đến gặp bác sĩ để có kế hoạch điều trị sớm.

Các thuốc bền màng dưỡng bào, kháng histamin H1, chống viêm không có cortizol phần lớn không làm bệnh nhân thỏa mãn. Giúp bệnh nhân vượt qua mùa nóng an toàn phải là nghệ thuật phối hợp các thuốc trên cùng với nước mắt nhân tạo. Giải thích, giáo dục cho bệnh nhân và người nhà tự giảm nhẹ gánh nặng bệnh tật cũng rất quan trọng. Đa phần các bệnh nhân sẽ giảm ngứa và ngừng day dụi nếu được chườm đá ngay trong cơn cộng với nhỏ nước mắt nhân tạo để trong ngăn mát tủ lạnh. Đội mũ rộng vành, tránh nắng, tránh nóng, đeo kính ngăn tia UV có gọng to ôm sát mặt sẽ giúp trẻ có thể chơi và học như những trẻ khác trong mùa hè.


Viêm kết mạc có hột do chlammydia

Với cư dân ở các đô thị lớn, đi bơi trong các bể bơi công cộng có nguy cơ cao bị đau mắt đỏ. Vì sao vậy? Việc bơi lội làm tăng cơ hội lây nhiễm của một loại vi khuẩn có tên là chlamydia cùng họ với vi khuẩn gây ra bệnh mắt hột. Vi khuẩn này có thể từ bộ phận sinh dục lây vào mắt hoặc từ mắt sang mắt. Các bác sĩ Pháp còn gọi bệnh là viêm kết mạc bể bơi hay viêm kết mạc thể vùi trên người lớn. Biểu hiện của bệnh này là mắt đỏ, ra gỉ nhiều, kết mạc có hột đặc hiệu, giác mạc có thể bị ảnh hưởng: viêm giác mạc chấm và thẩm lậu giác mạc vùng rìa, viêm dưới biểu mô và màng máu. Một chu kỳ bệnh diễn tiến từ 3 – 12 tháng. Chính vì vậy, bệnh nhân nên đi khám để lấy đơn thuốc điều trị đặc hiệu: kháng sinh họ macrolit đường uống, tra nhỏ mắt các thuốc có tetracycline, neomycine hay quinolone kiên trì trong 3 tháng.


Viêm kết mạc do virut

Hiện nay, bệnh đau mắt đỏ đang phát triển ở một số địa phương và có nguy cơ gây thành dịch. Đáng tiếc là sau khi bị bệnh ta không thu được miễn dịch vĩnh viễn như với sởi hay thủy đậu. Chính vì thế có người sẽ bị lần thứ 2 rồi thứ 3… Thủ phạm là virut nhóm Adeno, có 6 loại dưới nhóm từ A tới F với 47 týp huyết thanh khác nhau. Biểu hiện bệnh lý do Adenovirus trên mắt khá đa dạng: viêm kết mạc có hột cấp; viêm kết giác mạc dịch tễ; viêm thanh quản – kết mạc có sốt; viêm kết giác mạc có hột mạn tính.

Đây là bệnh lý có tính toàn cầu, gây dịch, thường xảy ra vào mùa nóng. Bệnh lây lan dễ dàng do virut có tính kháng cồn, tồn tại trên các bề mặt dụng cụ gia đình và cả dụng cụ y tế tới… 35 ngày. Biểu hiện chung là triệu chứng nhiễm virut: sốt nhẹ, ho, đau họng, nổi hạch. Sau đó là các triệu chứng tại mắt rầm rộ, rất khó chịu: đỏ mắt, ra gỉ, cộm rát.

Với thể viêm kết – giác mạc các triệu chứng của viêm giác mạc sẽ xuất hiện từ ngày thứ 7 – 14: viêm biểu mô lan tỏa, viêm dưới biểu mô dạng đốm, đám thẩm lậu dưới biểu mô. Bệnh nhân sẽ có nhìn mờ, chảy nước mắt, sợ sáng khác hẳn với các thể lành tính khác: không có nhìn mờ, sợ sáng, kết thúc nhanh và êm dịu.


Viêm kết mạc có giả mạc

Đây chính là viêm kết mạc dịch (do virut) nhưng có diễn tiến đặc biệt trên trẻ em. Đặc biệt là với trẻ ở tuổi đi nhà trẻ, mẫu giáo hay học sinh cấp 1. Giai đoạn tiền triệu chứng hay toàn phát cũng giống như trên nhưng lại dai dẳng và khá phiền toái ở giai đoạn kết thúc.

Viêm kết mạc có giả mạc làm cha mẹ các cháu nhỏ sợ hãi và lo lắng. Khi có giả mạc việc điều trị sẽ khó khăn hơn, nên cho trẻ bóc giả mạc trong bệnh viện, thường sau 10 ngày bệnh mới có xu hướng lui giảm và khỏi.

Với trẻ em có thể kèm theo viêm thanh quản với triệu chứng toàn thân nặng hơn: sốt cao, mệt mỏi, đau cơ, nôn mửa. May thay biến chứng vào giác mạc ở thể này lại rất ít. Ở một vài trẻ có thể có đau mắt đỏ kèm theo xuất huyết dưới kết mạc rộng. Đó là do các virut khác tên là Coxakie A24 và Enterovirus gây nên. Tuy lây lan mạnh, làm bệnh nhân lo sợ nhưng lại khỏi nhanh và không có biến chứng.


Các biện pháp vệ sinh

Các bậc phụ huynh nên chú ý vệ sinh tay, mắt, chống lây lan là quan trọng nhất. Rửa mắt bằng nước muối hoặc nước mắt nhân tạo các loại khi có người xung quanh bị đau mắt đỏ. Có thể dùng kháng sinh và các thuốc có steroides nhưng phải có ý kiến của bác sĩ chuyên khoa mắt. Đừng quên chính bệnh viện là môi trường phát tán dịch trong mùa dịch do tần xuất gặp gỡ người bệnh – người lành trong bệnh viện là rất rất cao. Chính vì vậy, trong những ngày đỉnh dịch không nên đến bệnh viện khi không cần thiết, cũng nên tránh chỗ đông người như siêu thị, thang máy. Công tác vô trùng, vệ sinh hoàn cảnh trong bệnh viện cần được lưu tâm hơn trong mùa đau mắt dịch.

Khuyến cáo phòng bệnh đau mắt đỏ của Bộ Y tế
(ban hành kèm theo QÐ 6165/CÐ
-BYT ngày 3/10)

Ðể chủ động phòng bệnh, cộng đồng cần thực hiện tốt:

 

1. Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng. Rửa mặt hàng ngày bằng khăn mặt riêng với nước sạch.

2. Vệ sinh mắt, mũi họng hàng ngày bằng các thuốc nhỏ mắt, nhỏ mũi, nước súc họng thông thường.

3. Sử dụng xà phòng hoặc các chất sát khuẩn thông thường sát trùng các đồ dùng, vật dụng của bệnh nhân.

4. Không đưa tay lên dụi mắt, mũi, miệng. Không dùng chung lọ thuốc nhỏ mắt, vật dụng cá nhân dễ bị nhiễm mầm bệnh như khăn mặt, kính mắt.

5. Hạn chế tiếp xúc với bệnh nhân hoặc người nghi bị đau mắt đỏ.

6. Người bệnh hoặc người nghi bị đau mắt đỏ cần hạn chế tiếp xúc với người khác và đến cơ sở y tế để được khám, tư vấn, điều trị kịp thời. Không tự ý điều trị khi chưa có hướng dẫn của cán bộ y tế. TB

BS. Hoàng Cương

LEAVE A REPLY